NHỮNG CÂY THUỐC NAM THÔNG DỤNG DÙNG ĐỂ CHỮA BỆNH

Cây Mã Đề

  1. Cây mã đề thường được sử dụng trong nấu ăn, không chỉ vậy, cây mã đề còn là một vị thảo dược vô cùng tuyệt vời, giúp con người chữa lành vết thương bằng cơ chế hút thải độc và rất tốt cho hệ hô hấp, tiêu hóa
  2. Lá và hạt cây mã đề đều có tác dụng chữa lành các tổn thương và giảm sưng, viêm trong hệ tiêu hóa. Đặc biệt, hạt mã đề là một vị thuốc hữu ích giúp bạn duy trì một hệ tiêu hóa sạch sẽ bởi khả năng hoạt động giống như chất xơ psyllium, giúp hấp thụ các chất độc hại còn tích tụ.
  3. Không chỉ trong đông y mà ngay cả nền y học hiện đại cũng đã thừa nhận rằng cây mã đề là một vị thuốc tự nhiên có tác dụng làm long đờm, giảm đau, ho, viêm mũi, viêm phế quản nhẹ  và nhiều thể bệnh đường hô hấp khác rất hiệu quả. Sở dĩ như vậy là vì loài cây này chứa khá nhiều khoáng chất silica có khả năng tiêu sạch chất nhầy, từ đó làm giảm sự tắc nghẽn bên trong đường hô hấp
  4. Không chỉ chữa lành các vết thương hiệu quả, đặc tính làm se của cây mã đề còn được sử dụng trong việc xoa dịu cảm giác đau và chữa lành bệnh trĩ, ngăn ngừa chảy máu do trĩ và bệnh viêm bàng quang.
Cây Mã Đề

Cây Bạc Hà

Cây bạc hà là một vị thuốc rất phổ thông ở nước ta dùng cả trong đông y và tây y. Tính chất của bác hà theo các tài liệu cổ ghi như sau: Vị cay, mát không độc, vào 2 kinh phế và can, có tác dụng tán phong nhiệt, ra mồ hôi, giảm uất, làm thuốc thanh lương dùng chữa cảm nắng (trúng thử), đau bụng, bụng đầy, chứng ăn không tiêu

Công dụng của cây bạc hà:

Bạc hà là một vị thuốc thơm, dùng làm cho thuốc thơm dễ uống có tác dụng:

  • Làm ra mồ hôi.
  • Hạ sốt dùng chữa cảm sốt, cảm mạo, mũi ngạt, đau đầu,…
  • Giúp cho sự tiêu hoá.
  • Chữa kém ăn, ăn uống không tiêu, đau bụng đi ngoài.
  • Tinh dầu bạc hà và mentola dùng làm thuốc sát trùng, xoa bóp nơi sưng đau, như khớp xương, thái dương khi đầu nhức.
  • Theo Lesieur và J. Meyer bạc hà là một vị thuốc chữa loét dạ dày, làm giảm bài tiết dịch vị và giảm đau.
Cây Bạc Hà

Cây an xoa: Giải độc, mát gan

Cây an xoa hay còn gọi là cây tổ kén cái, được nhiều người truyền tai nhau là cây thuốc nam chữa bệnh gan rất hiệu quả. Cây an xoa thuộc loại thân gỗ, mọc thành từng cụm, lá rộng to bằng bàn tay và có lông trắng, cứng. Cây nở hoa màu tím, quả dài và nhỏ như hình con sâu, quả còn non có màu xanh nhưng càng về già thì càng lộ màu nâu.
Cây an xoa tính bình, có tác dụng mát gan, giải độc, tăng cường và phục hồi chức năng gan. Cây an xoa được dùng như là cây thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan, gồm viêm gan siêu vi B, C, men gan cao, xơ gan, thậm chí là ung thư gan. Ngoài ra, cây có tác dụng chữa đau lưng, nhức mỏi, da xanh, mất ngủ, hỗ trợ chữa bệnh đại tràng, bệnh trĩ và kích thích tiêu hóa.
Cây An Xoa
Cách sử dụng cây an xoa là rửa sạch, cắt nhỏ, phơi khô, sau đó sao vàng hạ thổ rồi đem nấu nước uống. Ban đầu thì nấu thành một chén nhỏ thật đặc, sau đó lấy bã còn trong bình nấu loãng thêm 2 chén nữa.
Cây an xoa mọc ở nhiều nơi, trong đó được tìm thấy nhiều ở khu vực tỉnh Bình Phước, nơi gần biên giới, mọc hoang gần các đường mương hoặc nơi ẩm ướt.

Hoa Atisô

Cây atisô, tên khoa học là Cynara scolymus, vừa cây thuốc quý, vừa được xem là một loại thực phẩm chữa bệnh gan. Cây atisô có tính mát, vị đắng nhẹ, hương thơm dịu. Atisô có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải, đã được người Hy Lạp cổ đại trồng làm rau ăn và làm thuốc và được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 bởi người Pháp.
Atisô có tác dụng nhuận gan, nhuận tràng, lợi tiểu, tăng tiết mật, thông mật, hạ cholesterol máu, bảo vệ gan và chống độc. Atisô được coi là cây chữa bệnh gan vì nó làm sạch các độc tố trong gan, từ đó làn da cũng sẽ được cải thiện rất nhiều. Chất chống oxy hóa cynarin và silymarin trong atisô có tác dụng phục hồi chức năng của gan. Ngoài ra, việc kích thích sự tiết dịch của gan khiến atisô có tác dụng giảm triệu chứng ợ nóng và xây xẩm sau khi say xỉn.
Hoa Atisô
Không chỉ được dùng cho các bệnh về gan, tác dụng của atisô còn mở rộng sang phòng chống xơ vữa động mạch và giảm tình trạng tăng mỡ trong máu hoặc trị chứng khó tiêu.
Atisô có thể sử dụng để nấu canh như một loại rau củ hoặc cây còn được phơi khô làm trà và dược liệu. Bạn cũng có thể ngâm hoa atisô đỏ với đường để tạo nên một thức uống thơm ngon và tốt cho sức khỏe.
Tuy nhiên, atisô không nên dùng cho những người bị tắc ống mật, bị sỏi mật hoặc những người bị dị ứng với atisô.

Nấm ngọc cẩu

Nấm ngọc cẩu có vị chát, hơi ngọt, tính ôn, quy vào Tỳ, Thận và có rất nhiều tác dụng trong việc chữa bệnh như: điều trị yếu sinh lý, liệt dương, điều trị táo bón, đau nhức cơ thể, xương khớp, bồi dưỡng sức khỏe…. Dược liệu này không hề độc hại và hầu như là không có tác bất kỳ tác dụng phụ. Mọi người thường dùng nấm ngọc cẩu nấu ăn, sắc uống hoặc có thể đem ngâm rượu đều rất là an toàn.

Nấm ngọc cẩu

Nấm ngọc cẩu là một loài cây sống lâu năm. Cây có thể tồn tại cũng như phát triển bằng cách là sống ký sinh trên những cây gỗ lớn hơn, vật chủ được lựa chọn thường có tán lá rộng ở trong rừng. Về bản chất của cây, thì nó là loại cây vốn không thuộc họ nhà nấm nhưng lại chồi lên khỏi mặt đất như nấm, phần ngọn cũng có hình dáng tương tự như của cây nấm nên được mọi người gọi với cái tên thân thuộc là “nấm ngọc cẩu”.

Tùy theo mỗi màu sắc, hình dạng mà nấm ngọc cẩu được người ta chia thành những loại khác nhau. Trong đó, số lượng phổ biến nhất là những loại sau:

Phân theo hình dạng quan sát bên ngoài:

  • Nấm ngọc cẩu đực: Có thân hình chóp, có chiều dài dao động từ khoảng 10 – 15cm nhưng đôi khi cũng có cá thể dài hơn. Quan sát từ bên ngoài ta có thể thấy được màu đỏ nâu thẫm của nấm được tạo thành bởi rất nhiều những cán hoa nhỏ li ti, có các mô màu tím bao bọc xung quanh bên ngoài, thường sẽ không mở bung ra. Loại nấm ngọc cẩu này sẽ có hương thơm tương đối dịu và mùi thơm tỏa ra nhiều hơn so với giống cái.
  • Nấm ngọc cẩu cái: Có thân cây nhỏ hơn, bông to và dài tương tự như một bắp ngô non. Hương thơm cũng có tỏa ra nhưng ít hơn cây đực. Củ non và có chứa một ít chất xơ.

Phân theo màu sắc của ruột cây:

  • Nấm có ruột vàng: Phần ruột ở bên trong thường có màu vàng và rất thơm
  • Nấm có ruột đỏ hoặc tím: Ruột sẽ có màu đỏ, một số loại có thể hơi ngả sang sắc tím. Chiều dài thân và đường kính nhỏ hơn nhiều so với nấm ruột vàng.

Nấm ngọc cẩu thông thường sẽ mọc theo cụm. Nếu trong cùng một cụm thì có thể tìm thấy được cả nấm đực lẫn cái. Những cá thể nấm có kích thước lớn bằng ngón tay cái, có màu nâu hoặc đỏ sẫm thì sẽ được đào về. Một số nhánh còn lại quá bé thì sẽ được giữ lại ở đó, để chúng tiếp tục sinh sôi và phát triển, sau đó thu hoạch vào những đợt sau.

Sau khi được đào về, người nông dân nấm sẽ đem rửa sạch với nhiều lần nước cho sạch, sau đó để ráo nước. Sử dụng tươi hoặc đem sấy khô cả củ hoặc cắt thành những lát mỏng theo chiều dọc thân cây, đem phơi ở trong bóng râm cho tới khi hơi se mặt lại là được.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *